Đây là một tác phẩm tương đối tiêu biểu cho bố cục và chủ đề tranh ở thế kỷ XIII–XV. Trong thời kỳ này, bố cục chính thường là đức Phật Thích Ca, bao quanh là các bố cục phụ tương hỗ, gồm: (1) Hai đại đệ tử; (2) Mười sáu Đại A-la-hán; (3) Ba mươi lăm đức Sám Phật; và (4) Cuộc đời đức Phật Thích Ca. Về sau, có tranh thay thế hai đại đệ tử bằng hai đức Bồ-tát. Dù khác biệt đôi chút về số lượng chủ đề được minh họa trong tranh, phần lớn các bức họa đều tuân theo một bố cục tương đối quy chuẩn, cả về hình tượng lẫn thứ tự vị trí (mà có lẽ có nguồn gốc xa xưa hơn nhiều).
Ở vị trí trung tâm là hình ảnh đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Shakyamuni) đang ngồi kết-già trong tư thế kim cương, an ngự trên pháp tòa lộng lẫy và tỏa hào quang trang nhã. Tay phải ngài kết ấn “xúc địa” (bhumisparsha mudra), tay trái đặt trên đùi trong thủ ấn “thiền định” (dhyana mudra). Trong lòng bàn tay và bàn chân Phật hiện lên hình tượng bánh xe pháp luân vàng (dharmachakra). Phía sau lưng Phật là một tòa bảo tháp, trên đỉnh có một đức Phật đang kết ấn “chuyển pháp luân” (dhamachakra mudra). Bên cạnh Phật có hai đức Bồ-tát thị giả: vị bên trái màu trắng là đức Di Lặc Maitreya, vị bên phải màu da cam là đức Văn Thù Sư Lợi Manjushri.
Dựa vào các chi tiết được thể hiện quanh Phật, có thể nhận ra đây là thời điểm ngay trước lúc ngài thành đạo, khi ma quân Mara đang tìm cách ngăn cản ngài chứng ngộ. Ở hai bên bảo tháp, tầng tầng lớp lớp các loài ma quỷ đang tìm cách tấn công Phật bằng vũ khí, chiến thú, đất đá… Còn ngay bên dưới pháp tòa của Phật, trong một bố cục khung ngang, ở trung tâm có lẽ là hình tượng ma vương Mara ba đầu sáu tay sắc xanh đen. Đứng quanh ma vương là ba người con gái nhan sắc tuyệt trần, xuất hiện hai lần ở hai bên, đang tìm cách quyến rũ Phật. Ở chân nhóm bên phải, họ thị hiện hình tướng là những bà lão già nua.
Các ô hình còn lại bao quanh đức Phật trung tâm thể hiện những sự kiện quan trọng trong cuộc đời ngài. Ngoại trừ sáu ô ở hai cột bên trái và phải ngài, tất cả đều diễn ra theo đúng thứ tự thời gian khi di chuyển thuận chiều kim đồng hồ. Khởi hành từ ô thứ ba ở cột bên phải, ta bắt đầu bằng sự kiện đức Phật đản sinh. Ở đây, đứng ở trung tâm là hoàng hậu Mahamaya đang hạ sinh thái tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm (Siddhartha Gautama) từ mạn sườn phải. Có thể để ý thấy hình tượng voi trắng ở góc trên bên trái ô hình. Theo điển tích, vào đêm hoàng hậu thụ thai thái tử, bà nằm mơ thấy một con voi trắng sáu ngà đi vào mạn sườn phải của mình.
Ô ngang bên dưới bao gồm nhiều sự kiện liên tục, từ phải qua trái lần lượt như sau: (1) Đức vua Tịnh Phạn (Shuddhodana) triệu mời các thầy chiêm tinh đến tiên tri số phận của thái tử; tất cả đều cho rằng chàng sẽ trở thành một bậc Chuyển Luân Thánh Vương (chakravartin) hoặc một vị Phật. (2) Hoàng tử cưỡi ngựa ra khỏi hoàng cung, chứng kiến bốn cảnh tượng lão, bệnh, tử và khất sỹ xuất gia. (3) Hoàng tử và người quản mã trốn khỏi cung vua, bắt đầu quá trình tu tập khổ hạnh để vượt thoát luân hồi. (4) Hoàng tử cởi bỏ y phục và tự cắt tóc mình; thiên nhân ở hai bên đang hứng lấy tóc chàng. (5) Sau khi thấy khổ hạnh cùng cực không phải là con đường đúng đắn, chàng nhận bữa ăn sữa gạo từ một thiện nữ. (6) Chàng nhận ra con đường trung đạo và quyết tâm hành thiền cho đến khi giác ngộ. Ma quân hiện lên gây chướng ngại, ở đây được hình tượng hóa thành hai người đang rót lời ngon ngọt vào tai chàng, tìm cách gây xao nhãng. (7) Chàng thành đạo và trở thành một vị Phật. Phật ân hưởng trạng thái hỷ lạc của giác ngộ thêm bảy tuần dưới gốc cây bồ-đề, và khi trời đổ mưa, rắn thần naga hiện lên sau lưng để che mưa cho ngài.
Năm ô còn lại ở hai cột dọc không diễn tiến theo trình tự thời gian. Bắt đầu từ ô thứ ba trên cột trái, di chuyển ngược lên gồm: (1) Sự tích Phật nhận mật ong cúng dàng từ chú khỉ. Khỉ ta vui mừng nhảy nhót trên cành cây và bị rơi xuống chết, nhưng sau đó được đầu thai lên cung trời Đâu Suất (Tushita) bởi tâm cúng dàng thanh tịnh; đây là nguồn gốc của lễ hội Madhu Purnima trong Phật giáo Nguyên Thủy. (2) Đức Phật chuyển pháp luân lần đầu tiên ở thành Sarnath cho các bạn đồng tu. Có thể nhận ra sự kiện này bởi thủ ấn “chuyển pháp luân” trên tay Phật, cũng như bởi hình tượng cặp nai chầu pháp luân bên dưới đài sen của ngài. (3) Đức Phật quy phục voi dữ do Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) thả ra; voi được cảm hóa đang phủ phục dưới chân Phật.
Ở cột dọc bên phải, bắt đầu từ ô thứ hai và di chuyển ngược lên gồm: (1) Điển tích đức Phật thị hiện thần thông bất khả tư nghị trong nửa đầu tháng Giêng ở Xá Vệ (Shravasti), khi ngài năm mươi tuổi. Tại đây đức Phật đã chiến thắng ma quân (mara) và ngoại đạo (tirthika) tại tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana). Có thể nhận ra đám đông ngoại đạo tới tranh biện với Phật, cũng như thủ ấn “chuyển pháp luân” trên tay ngài. (2) Điển tích đức Phật giáng trần từ cõi trời Tam Thập Tam Thiên (Trayastrimsha), dựa trên chi tiết chiếc thang phía sau Đế Thích Indra. Chiếc thang này thường được thể hiện có ba mươi ba bậc, tương ứng với ba mươi hai thiên vương phụ giúp Đế Thích và bản thân ngài. Đứng đăng đối với Đế Thích là hình tượng Phạm Thiên Brahma bốn đầu bốn tay.
Nằm trong ô ngang trên cùng, ở trung tâm là hình ảnh Phật thị hiện vô dư niết-bàn (parinirvana), chư tăng và chư thiên đang vân tập quanh ngài để chứng kiến sự kiện này. Trong hai khung nhỏ ở hai bên xuất hiện tám vị Phật, mỗi khung bốn vị. Đây chính là bảy vị Phật quá khứ và một vị Phật tương lai: (1) Tỳ Bà Thi Phật Vipashyin; (2) Thi Khí Phật Shikhin; (3) Tỳ Xá Phù Phật Vishvabhu; (4) Câu Lưu Tôn Phật Krakuchandra; (5) Câu Na Hàm Mâu Ni Phật Kanakamuni; (6) Ca Diếp Phật Kashyapa; (7) Thích Ca Mâu Ni Phật Shakyamuni; và (8) Di Lặc Phật Maitreya. Đức Di Lặc là vị cuối cùng, đứng ở góc phải trên cùng; ngài hiện đang trụ ở ngôi Bồ-tát nên y áo không giống bảy vị Phật còn lại.